Thứ Sáu, 15 tháng 11, 2013

CÁCH CHỮA VẨY NẾN BẰNG THUỐC NAM | ĐIỀU TRỊ BỆNH VẨY NẾN

 I. Đại cương 

Vẩy nến là một bệnh da mãn tính thường gặp do viêm và chưa thể chữa khỏi hoàn toàn. Tỷ lệ bệnh chiếm 2-3% dân số thế giới, 5% dân số châu Âu, 2% dân số châu Á và châu Phi, ngót 10% tổng số các bệnh nhân đến khám ở các phòng khám  Da liễu. Nam gặp nhiều hơn nữ, người lớn nhiều hơn trẻ nít.

Bệnh phát thành từng đợt, có khi tăng giảm theo mùa.Những năm gần đây, số người mắc bệnh vảy nến càng ngày càng gia tăng. Đây là một bệnh lành tính, thường không ảnh hưởng đến sức khỏe nhưng ảnh hưởng nghiêm trọng đến tâm sinh lý và chất lượng cuộc sống của người bệnh.

  

  

Chữa bệnh vẩy nến bằng thuốc nam
Chữa bệnh vẩy nến bằng thuốc ta
  


Bệnh vảy nến có thương tổn đặc trưng là mảng da màu đỏ, giới hạn rõ, bề mặt có vảy trắng, dễ tróc, thường xuất hiện ở da đầu, đầu gối, cùi chỏ và thân mình. Ngoại giả thương tổn cũng có thể xuất hiện ở bất cứ vị trí nào của thân thể như móng, lòng bàn tay, lòng bàn chân, vùng sinh dục và mặt...

Bây chừ, có rất nhiều phương pháp điều trị nhưng bệnh thường kháng trị hoặc dễ tái phát sau khi ngưng dùng thuốc. Các thuốc điều trị vẩy nến hệ thống trước đây như methotrexate, cyclosporin và retinoids có nhiều độc tính và tác không mong muốn nên người thầy thuốc cần phải theo dõi sát những bệnh nhân dùng các thuốc này. Nguyên do của vẩy nến giờ được chứng minh có liên can đến đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào và dấu ấn của cytokine.Theo y văn Bệnh vẩy nến là một bệnh miễn nhiễm qua trung gian tế bào ảnh hưởng đến da. Nó xảy ra khi hệ thống miễn dịch sai lầm thành thử các tế bào da như một tác nhân gây bệnh, và đã gửi ra tín hiệu bị lỗi đó gây ra sản xuất quá mức các tế bào da mới. Do đó các thuốc điều chỉnh miễn dịch tuyển lựa với độc tính ít hơn được xem như một thế hệ trị liệu mới trong việc kiểm soát và chữa lành vẩy nến.

Bệnh vẩy nến không lây truyền. Bệnh không hiểm nguy đến tính mệnh  Tuy nhiên, bệnh vẩy nến có liên hệ đến tăng nguy cơ đột quỵ, và điều trị lipid trong máu cao có thể dẫn đến cải thiện tình trạng bệnh. Có năm loại bệnh vẩy nến:. Mảng bám, guttate, nghịch đảo , mụn mủ, và erythrodermic. Dạng phổ quát nhất, mảng bám bệnh vẩy nến, thường được xem là sắc màu đỏ và trắng của các bản vá lỗi có vảy xuất hiện trên các lớp trước hết trên cùng của lớp biểu bì da. , Tuy nhiên, một số bệnh nhân không có dấu hiệu hoặc triệu chứng về da. Tên bệnh vẩy nến là từ tiếng Hy Lạp, có nghĩa là "tình trạng ngứa".

 II. Nguyên cớ 

Vẩy nến là do rối loạn biệt hóa lành tính của tế bào thượng bì. Cho đến nay vẫn chưa khẳng định rõ ràng nguyên do. Nhưng người ta biết kiên cố có 2 nguyên tố sau đây làm nên cơ chế sinh bệnh:

Yếu tố di truyền:

Khoảng 30% bệnh nhân có yếu tố gia đình (cha, mẹ, anh chị em ruột hoặc họ hàng trực hệ); 70% các cặp song sinh cùng mắc. Các nghiên cứu chỉ ra các kháng nguyên HLAW6, B13, B17, DR7 can dự đến vẩy nến da và khớp. Có hai kiểu bệnh rõ ràng trong vẩy nến: kiểu phát khởi sớm và kiểu phát khởi muộn. Vẩy nến phát khởi sớm thường gặp ở độ tuổi 16-22. Loại này có diễn tiến bất ổn và thiên hướng lan rộng toàn thân. Loại này có can hệ mạnh đến tính di truyền. Ngược lại, vẩy nến khởi phát muộn thường gặp ở độ tuổi 57-60. Loại này thường nhẹ và khu trú. Loại này thường ít có liên hệ mạnh với tính di truyền như loại khởi phát sớm.

Nguyên tố ngoại sinh:

Nhiều yếu tố môi trường cũng góp phần trong sinh bệnh học của vẩy nến. Các nhân tố ngoại sinh như chấn thương, stress, bỏng nắng, giải phẫu, thuốc và nhiễm trùng làm phát khởi bệnh ở những người có sẵn yếu tố di truyền tiềm ẩn. Các nhân tố này còn làm bệnh nặng thêm hoặc tái phát nặng nề.

Dựa vào 2 yếu tố trên người ta chia bệnh vẩy nến thành 2 tip:

- Vảy nến típ 1 có di truyền

- Vảy nến típ 2 không di truyền

 III. Sinh bệnh học miễn dịch của vẩy nến 

Sinh bệnh học bệnh vảy nến đến nay vẫn chưa sáng tỏ hoàn toàn. Nhưng đến nay phần nhiều tác giả cho rằng bệnh vảy nến là một bệnh có cơ chế tự miễn. Bệnh tự miến là rối loạn hệ miễn nhiễm làm cho sự nhận biết “ta hay không phải ta” không thường nhật và cơ thể tạo kháng thể chống lại ngay chính tế bào, tổ chức, cơ quan của bản thân mình và gây nên những bệnh cảnh lâm sàng tương ứng với tế bào, tổ chức cơ quan bị tổn thương.

Người ta chia ra 2 loại bệnh tự miễn nhiễm: Bệnh tự miễn nhiễm đặc hiệu cơ quan (bệnh có kháng thể đặc hiệu chống lại thành phần chính của bệnh: bạch biến có kháng thể chống tế bào melanocyte…) và bệnh tự miễn dịch không đặc hiệu cơ quan (người bệnh có tổn thương nhiều cơ quan tổ chức do tụ sinh ra nhiều kháng thể chống lại cơ quan tổ chức đó: lupus ban đỏ hệ thống có nhiều kháng thể chống nhiều cơ quan, nên bệnh này gây tổn thương nhiều cơ quan nội tạng: gan, thận, thần kinh, da….).

Vẩy nến được xem như một tình trạng tăng sinh quá mức của các keratinocyte ở thượng bì dưới sự kích thích của các lymphocyte ở bì. Cơ chế chuẩn xác và dây chuyền tương tác giữa các keratinocyte và các tế bào miễn nhiễm vẫn chưa được hiểu một cách đầy đủ. Tuy nhiên, nhiều chứng cứ cho thấy các tế bào T hoạt hóa là những chất điều chỉnh miễn dịch đốn trong sinh bệnh học của vẩy nến.

Thoạt đầu, các tế bào T hoạt hóa thâm nhập vào lớp bì ở vùng da thương tổn nhờ các phân tử kết dính tế bào và cytokine tiền viêm interleukin-8 (IL-8). Phần đông tế bào T ở thượng bì là loại CD4+helper (Th CD4). Các tế bào ThCD4  bị kích hoạt bởi các tế bào nhận diện kháng nguyên. Quá trình này sinh sản ra nhiều loại cytokine. Các tế bào ThCD4 sản xuất IL-2 và interferon-y (INE-y) được gọi là tế bào Th1 và miễn nhiễm trung gian tế bào. Ngược lại, các tế bào T sinh sản IL-4, IL-5 và IL-10 được gọi là các thế bào Th2 và góp phần trong miễn dịch thân thể. Các cytokime Th1 là những chất tiền viêm, còn các cytokine Th2 là những chất chống viêm. Trong vẩy nến, loại Th1 chiếm ưu thế còn Th2 ít hơn.

chữa vẩy nến bằng thuốc nam
Nguồn: Bacsivaynen.Com

H1: Sự kết dính và xâm nhập của tế bào T vào bì và thượng bì. Sự thâm nhập của các tế bào T ở da vào vùng viêm là một  nguyên tố quan yếu của đáp ứng miễn nhiễm. Khi tế bào T "lăn" dọc theo tế bào nội mô huyết quản, quá biểu diễn ra chậm chạp theo dòng máu do sự tương tác giữa LFA-1 trên bề mặt tế bào T và ICAM-1  trên bề mặt tế bào nội mô. Quá trình này làm gia tăng sự tiếp xúc của tế bào T và các cytokine được tiết ra bởi tế bào nội mô do các kích thích viêm. Kết quả là LFA-1 tăng ái tính với ICAM-1, có lẽ do sự  đổi thay cấu trúc LFA-1, tế bào gắn kết dạp ra  và đi xuyên qua biểu mô vào mô xung quanh. Khi tế bào T ra khỏi tiểu tĩnh mạch, chúng phản ứng với các cytokine bằng cách lôi kéo các cytokine về vùng viêm ở bì và từ đó vào thượng bì. Nguồn Pariser, D.M - 2003

 IV. Vấn đề  điều trị bây giờ 

Với vẩy nến típ 2: Bệnh vảy nến có các yếu tố khởi động gây phát khởi hoặc tái phát bệnh rất rõ rệt như nhân tố stress, nhiếm khuẩn Tai-Mũi-Họng, chấn thương da, một số thuốc, thức ăn… Nhiệm vụ của bệnh nhân và thầy thuốc phải xác định được nhân tố khởi động chính trên từng bệnh nhân cụ thể để có biện pháp ngăn chặn nguyên tố khởi động đó để điều trị có hiệu quả. Tỉ dụ: bệnh nhân có nhân tố tâm lý cần được giảng giải để bệnh nhân hiểu và có điều chỉnh trong tâm lý và công việc, giải thích cho bệnh nhân cần tránh thậm chí thay đổi cách sinh hoạt cho thích hợp với bệnh tật…

Điều trị bệnh vẩy nến theo cơ chế bệnh sinh hiện giờ là:

- Ngăn trở sự xâm nhập của các tế bào T hoạt hóa từ tế bào nội mô vào thượng bì và bì;

- Cản ngăn quá trình sinh sản cytokine Th1.

- Trực tiếp kháng lại các đáp ứng của cytokine Th1.

Điều trị tại chỗ thường được sử dụng trong vẩy nến mức độ nhẹ và trung bình. Vẩy nến mức độ làng nhàng và nặng có thể phải dùng quang trị liệu hoặc thuốc hệ thống. Thế hệ điều trị mới tụ hội chính yếu vào các đích chuyên biệt trong phản ứng miễn dịch qua trung gian tế bào.

Vẩy nến là một bệnh do phản ứng miễn nhiễm gây viêm. Các thuốc ức chế miễn dịch hiện giờ có hiệu quả trong việc kiểm soát vẩy nến đến một chừng độ cố định nhưng cũng còn nhiều bất lợi như độc tính cao và dễ tái phát khi ngưng điều trị và còn những tác dụng không mong muốn nghiêm trọng như độc gan, độc thận và ức chế tủy.

Vẩy nến hiện vẫn chưa thể chữa khỏi hoàn toàn mà chỉ làm giảm, sạch tổn thương và kéo dài thời kì tái phát. Có nhiều phương pháp điều trị và dựa vào tuổi, phái, dạng lâm sàng, vị trí thương tổn cũng như sự lan tỏa của bệnh. Vì vậy bệnh vảy nến còn nhiều vấn đề cần phải tiếp tục được nghiên cứu đặc biệt về sinh bệnh học. Cho nên, hàng năm trên thế giới có hàng trăm đề tài nghiên cứu về các lĩnh vực khác nhau trong đó có cả nghiên cứu các sản phẩm thuốc điều trị và tương trợ điều trị.

Ở Việt Nam từ trước đến nay dân ta đã dùng điều trị bệnh vẩy nến bằng thảo dược tuy nhiên chưa có những nghiên cứu dài hơi trên thực nghiệm và áp dụng trên lâm sàng để đạt được những kết quả mong muốn. Ngày nay các cây thuốc, bài thuốc trong dân gian lưu truyền chữa vẩy nến chưa được tụ họp phân tách và vận dụng. Vấn đề đặt ra cho các nhà khoa học là: thảo dược có chữa khỏi hoặc là giảm các triệu chứng của vẩy nến không?. Nếu thảo dược can thiệp được vào quá trình sinh bệnh của vẩy nến ít ra là vào vẩy nến típ 2 cũng đã rất tốt rồi. Thế giới đang quay về dùng sản phẩm từ thảo dược để chữa bệnh thiết tưởng  các nhà khoa học Việt Nam có thể mau chóng đi sâu vào hướng nghiên cứu này vì ở Việt Nam ta rừng nhiệt đới khôn xiết phong phú thảo dược quý hiếm. Được biết bây giờ Viện y khoa bản Địa Việt Nam đã và đang thúc đẩy nghiên cứu điều trị vảy nến từ thảo dược.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét