Bệnh vảy nến gặp ở mọi lứa tuổi, ở cả hai giới. Theo thống kê, bệnh chiếm tỷ lệ 1-4% dân số thế giới. Ở Việt
Cơ chế bệnh sinh:
Thương tổn da:
Thương tổn móng: Hay gặp là rỗ móng, móng dày và mủn, có thể bị cả móng tay và móng chân.
Phân thể:
Hiện giờ, bệnh vảy nến được chia làm 2 thể chính là vảy nến thể thông thường và vảy nến thể đặc biệt.
Thể thường nhật: Dựa vào kích tấc, vị trí thương tổn mà người ta chia thành các thể khác nhau, cụ thể:
Vảy nến thể chấm, thể giọt có thương tổn với đường kính tối đa 1cm, tản mát khắp người, nhất là nửa người trên…
Vảy nến thể đồng tiền là thể tiêu biểu và phổ quát nhất, thương tổn có đường kính từ 1 đến 2 cm, thiên hướng tròn như đồng bạc, vùng trọng tâm có nhạt màu hơn, ngoại vi đỏ thẫm.
Vảy nến thể mảng thường có các đám mảng lớn đường kính trên 2 cm, có khi 5-10cm hoặc lớn hơn, khu trú ở các vùng tỳ đè.
Vảy nến thể đảo ngược, các thương tổn xuất hiện ở các nếp gấp của thân.
Thể đặc biệt: Bao gồm vảy nến thể mụn mủ, vảy nến thể đỏ da toàn thân và vảy nến thể khớp:
Vảy nến mụn mủ hay gặp ở trẻ thơ: Đây là thể hiếm gặp, có thể biến chứng gây đỏ da toàn thân và rất khó điều trị.
Vảy nến đỏ da toàn thân
Điều trị: Cho đến nay, chưa có phương pháp đặc hiệu điều trị khỏi hẳn bệnh vảy nến mà chỉ điều trị ổn định, tránh biến chứng và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh. Các thuốc điều trị ổn định bệnh vảy nến bây chừ đều nhằm vào hai mục đích chính là chống viêm và ức chế phân bào tế bào thượng bì. Chiến lược điều trị bệnh vảy nến gồm tuổi tiến công và tuổi duy trì, với biện pháp dùng thuốc luân chuyển, trơ trọi hoặc phối hợp ăn nhập với từng bệnh nhân. Điều đặc biệt là phải kết hợp với tư vấn và liệu pháp tâm lý.
4.1.Các thuốc điều trị tại chỗ:
Thuốc bạt sừng bong vảy: Mỡ salicylic 2-10%.
Thuốc ức chế chuyển hóa, ức chế miễn nhiễm:
Mỡ Methotrexate 0,5-1%: Có tác dụng ức chế sinh sản tế bào thượng bì nhất là tế bào lớp sừng. Nhược điểm có thể gây đau, đỏ, sưng, trợt nhẹ ở vùng bôi thuốc, có trường hợp bị mẫn cảm với thuốc này trở thành viêm da dị ứng [9].
Mỡ 5-Fluouracil 5%: Có tác dụng ức chế tăng sinh thượng bì. Tuy nhiên, thuốc có thể gây phản ứng viêm tại chỗ.
Glucocorticoid: Chống viêm do ức chế huy động bạch huyết cầu đa nhân, chống gián phân. Các chế phẩm Glucocorticoid làm bệnh nhanh đỡ, không gây bẩn áo quần, không có mùi khó chịu. Thuốc có thể gây teo da, rạn da, trứng cá, nhiễm khuẩn tại chỗ, viêm nang lông, nhờn thuốc (khi ngừng thuốc, bệnh có thể tái phát nặng hơn trước).
Vitamin D và dẫn xuất: chế phẩm Vitamin D3- Calcipotriol (Daivonex, Daivobet) được ưng cho việc điều trị bệnh vảy nến từ những năm 1990 ở Châu Âu. Tác dụng ức chế tăng sinh biểu bì, điều hòa miễn nhiễm tại chỗ, chống viêm. Calcipotriol được cho là thuốc bôi tốt nhất trong điều trị bệnh vảy nến do tác dụng làm bệnh đỡ nhanh, tránh được hiện tượng lờn thuốc. Tuy nhiên, thuốc có thể gây tăng canxi máu khi bôi quá nhiều so với liều quy định (chỉ được bôi<30 data-blogger-escaped-ch="" data-blogger-escaped-da="" data-blogger-escaped-di="" data-blogger-escaped-n="" data-blogger-escaped-span="" data-blogger-escaped-t="">
đề phòng:
Các biện pháp Dự phòng nguyên tố khởi phát cũng đóng một vai trò quan trong trong điều trị vảy nến. Liệu pháp tâm lý, tránh stress là cần thiết. Các thầy thuốc nên thuyết phục bệnh nhân “chung tay hòa bình” với bệnh, tránh bi quan và giải thích để bệnh nhân có lối sống lành mạnh, sinh hoạt phù hợp, tránh các nhân tố bất lợi làm bệnh dễ tái phát để đạt được ổn định lâu dài.
Giám đốc bệnh viện Da Liễu Trung Ương
Chủ toạ hội da liễu Việt Nam






0 nhận xét:
Đăng nhận xét